|
Nằm
trên bờ Vịnh Bắc Bộ, địa hình Sầm Sơn tương đối bằng phẳng, là vùng sơn
thuỷ hữu tình với khí hậu trong lành, dải bờ biển cát vàng thoai thoải,
nước trong xanh soi bóng núi Trường Lệ với những di tích văn hoá đã
được xếp hạng quốc gia (Ðền Ðộc Cước, Ðền Cô Tiên, Hòn Trống Mái...).
Hơn nữa, biển Sầm Sơn bao la là nơi trực tiếp cung cấp nguồn hải sản
phong phú như tôm, cá mực, cua, các loại hải sản quý khác... Mặt khác,
Sầm Sơn có bề dày lịch sử, truyền thống văn hoá lâu đời, với các hoạt
động văn hoá mang đậm bản sắc quê hương như lễ hội bánh chưng - bánh
dày (ngày 12-5 âm lịch hàng năm). Với những lợi thế này, Sầm Sơn có
nhiều ưu thế trong sự phát triển của ngành du lịch và thuỷ sản.
Lấy ngành du lịch làm trọng tâm
Sầm
Sơn là một trong những địa danh nổi tiếng, là niềm tự hào của ngành du
lịch Thanh Hoá và cũng là của ngành du lịch Việt Nam. Ngay từ thời Pháp
thuộc, làng núi Sầm Sơn cùng bãi biển chân núi Sầm được coi là khu nghỉ
mát cho các quan chức người Pháp, dần dần trở thành bãi tắm lý tưởng
thu hút khách du lịch thập phương. Sau năm 1960 và nhất là từ 1980 đến
nay, Sầm Sơn thực sự trở thành thị xã du lịch, nghỉ mát nổi tiếng.
Thực
hiện đường lối đổi mới của Ðảng và Nhà nước, chính quyền và nhân dân
thị xã Sầm Sơn đã phát huy thế mạnh sẵn có, lấy du lịch làm ngành kinh
tế trọng điểm trong phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, kể từ năm 1996
trở lại đây, được sự hỗ trợ của Nhà nước, của tỉnh và sự đóng góp của
nhân dân địa phương, Sầm Sơn đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng phát triển kết
cấu hạ tầng như: khách sạn, giao thông, điện, nước và khu vui chơi giải
trí,... Hầu hết các khách sạn đều được đầu tư xây dựng khang trang với
những trang thiết bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Ðặc biệt, thị xã
đã tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật, hoàn
thiện và đưa vào sử dụng Khu du lịch văn hoá - vui chơi giải trí "Huyền
thoại thần Ðộc Cước" và "Khu nhà luyện tập và thi đấu thể dục thể thao
tổng hợp"; tiến hành quy hoạch: Khu sinh thái Quảng Cư, Khu du lịch văn
hoá núi Trường Lệ. Vì vậy, số lượng khách đến với Sầm Sơn ngày một
tăng. Nếu như năm 1996 là 506.740 khách/ngày thì đến năm 2002 tăng 60%,
đạt 815.500 khách/ngày, dự kiến năm 2003 đạt 880.000 khách/ngày. Doanh
thu từ ngành du lịch cũng liên tục tăng cao, từ 34 tỷ đồng (năm 1996)
lên 77,058 tỷ đồng (năm 2002), đưa tỷ trọng ngành du lịch trong cơ cấu
kinh tế từ 40% (năm 1996) tăng lên 46,33% (năm 2002).
Kết
quả nêu trên cho thấy, ngành du lịch ngày càng khẳng định vị trí quan
trọng trong cơ cấu kinh tế thị xã Sầm Sơn và phát triển theo hướng bền
vững. Vai trò đó được khẳng định bằng tác động tích cực tới sự phát
triển kinh tế - xã hội của Sầm Sơn như: thu hút hàng ngàn lao động tham
gia kinh doanh dịch vụ du lịch; thay đổi tư duy, cách nghĩ cách làm của
người dân trong cơ chế thị trường; góp phần nâng cao trình độ dân trí
của người dân, đặc biệt là nhận thức về du lịch. Bên cạnh đó, cùng với
sự hỗ trợ của Nhà nước, nguồn thu từ du lịch được đầu tư xây dựng các
công trình phúc lợi như: trạm y tế, trường học, đường điện, giao thông;
tôn tạo các danh lam thắng cảnh và khu di tích, góp phần làm thay đổi
nhanh diện mạo của thị xã Sầm Sơn.
Hướng tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành thuỷ sản
Cùng
với du lịch, trong những năm qua, ngành thuỷ sản cũng giữ vai trò quan
trọng trong nền kinh tế của Sầm Sơn. Mặc dù đường bờ biển của thị xã
chỉ dài 9 km, (trong đó khu vực dành cho du lịch là khá lớn), nhưng Sầm
Sơn vẫn là nơi có nguồn lợi hải sản lớn của tỉnh Thanh Hoá. Biển Sầm
Sơn được các chuyên gia trong ngành thuỷ sản đánh giá là có trữ lượng
hải sản tương đối lớn, nhiều chủng loại. Ngay từ xa xưa, đánh bắt,
chinh phục biển đã trở thành truyền thống của người dân Sầm Sơn.
Phát
huy truyền thống sẵn có, kết hợp với áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất, hoạt động khai thác hải sản trong giai đoạn vừa qua
(1996 - 2002) đã có bước tăng trưởng nhảy vọt cả về lượng và chất.
Trong đó, thị xã đã từng bước thực hiện chuyển đổi cơ cấu thuyền nghề
theo hướng giảm áp lực khai thác ven bờ, loại bỏ dần các phương tiện
nhỏ, lạc hậu, đầu tư trang thiết bị đánh bắt mới với công suất lớn,
thiết bị máy móc hiện đại, công nghệ khai thác tiên tiến, góp phần nâng
cao sản lượng khai thác, năng suất lao động, bảo vệ và tái tạo nguồn
lợi thuỷ sản gần bờ, từng bước đưa nghề khai thác thủy sản phát triển
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lượng tàu thuyền gắn máy
các loại tăng nhanh, nếu như năm 1996 tổng số tàu thuyền có 513 chiếc
thì đến năm 2000 tăng lên 805 tàu gắn máy, 110 tàu đánh bắt xa bờ. Ðặc
biệt, ngư dân Sầm Sơn đã được Nhà nước đầu tư 68 dự án gồm 79 tàu có
công suất lớn từ 90CV đến 254CV phục vụ đánh bắt xa bờ. Nhờ vậy, sản
lượng khai thác tăng đều qua các năm, từ 5.234 tấn (năm 1996) lên 8.500
tấn (năm 2002), dự kiến năm 2003 đạt 9.500 tấn. Trình độ chuyên môn kỹ
thuật về đánh bắt hải sản và sử dụng thiết bị, máy móc của ngư dân dần
được nâng cao. Sự có mặt của ngư dân ngoài khơi xa còn góp phần bảo vệ
nguồn lợi hải sản, chống lại sự xâm nhập trái phép của tàu nước ngoài,
bảo vệ vùng biển của Tổ quốc.
Nuôi
trồng thuỷ, hải sản cũng từng bước được chú ý và mở rộng về quy mô. Tận
dụng những tiềm năng sẵn có, những năm gần đây, Sầm Sơn đã tiến hành
cải tạo vùng triều sông Mã, đầu tư hàng chục tỷ đồng để cải tạo ao
nuôi, đưa khoa học - công nghệ mới vào nuôi trồng thuỷ sản. Ðặc biệt,
trong lĩnh vực nuôi tôm, thị xã đã mạnh dạn chuyển đổi diện tích gieo
trồng năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản, cho giá trị cao gấp 3 -
5 lần trồng lúa. Ðồng thời, Sầm Sơn đã từng bước xoá bỏ hình thức nuôi
quảng canh, chuyển sang nuôi bán thâm canh. Ðến nay, tổng diện tích
nuôi trồng thuỷ sản đạt 205 ha, tăng 46,4% so với năm 1996; tổng sản
lượng nuôi trồng đạt 170 tấn, tăng 41,6% so với năm 1996. Nét đột phá
trong sự phát triển của ngành thuỷ sản Sầm Sơn là đã xây dựng hai trại
giống tôm sú, sản sinh được 21 triệu con, chủ động đáp ứng nhu cầu trên
địa bàn. Hiện nay, thị xã đang phối hợp cùng với ban, ngành cấp tỉnh để
lập dự án thi công khu nuôi tôm công nghiệp. Với tổng sản lượng bao gồm
cả đánh bắt và nuôi trồng đạt 8.670 tấn, tổng trị giá 58,3 tỷ đồng,
cùng với du lịch, ngành thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế - xã hội của thị xã. Hàng năm, ngành đã giải quyết việc làm cho
phần lớn lao động của thị xã.
Sản
lượng thuỷ sản tăng mạnh trong những năm qua là cơ sở quan trọng để
công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản, công nghiệp đóng, sửa tàu thuyền và
các dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển. Hiện nay, công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp trên địa bàn chủ yếu là chế biến thuỷ sản. Năm 2002,
tổng giá trị công nghiệp chế biến đạt 5,2 tỷ đồng, dự kiến năm 2003 đạt
5,9 tỷ đồng. Trong thời gian vừa qua, Sầm Sơn đã triển khai nhiều dự
án, điển hình là dự án chế biến hải sản Tân Hưng - xã Quảng Tiến với
công suất 800 tấn/năm; dự án đầu tư xây dựng hai dây chuyền sản xuất
bột cá và sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn nuôi tôm với
công nghệ tiên tiến của Trung Quốc, tổng vốn đầu tư gần 6 tỷ đồng, mở
ra triển vọng mới cho ngành thuỷ sản nói chung và lĩnh vực công nghiệp
chế biến thuỷ sản nói riêng của thị xã Sầm Sơn.
Xây dựng một Sầm Sơn hiện đại, văn minh
Sự
phát triển của các ngành kinh tế trọng yếu như du lịch, thuỷ sản đã tạo
nên diện mạo mới cho Sầm Sơn: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt
11 - 12%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 380 - 430 USD/năm; kết
cấu hạ tầng được đầu tư khang trang, văn hoá - xã hội phát triển. Tuy
nhiên, điểm hạn chế hiện nay của thị xã vẫn là du lịch mùa vụ, tốc độ
phát triển nhanh gây mất cân đối giữa quy hoạch và tốc độ phát triển.
Ðể đạt được mục tiêu đến năm 2005 trở thành đô thị loại IV và đến năm
2010 thành đô thị loại III, việc quy hoạch thị xã được phân thành các
khu chức năng với bố cục như sau:
1) Khu trung tâm bao gồm:
- Trung tâm hành chính - chính trị như cơ bản hiện nay là phù hợp.
-
Trung tâm thương mại - dịch vụ: xây dựng tại các bãi tắm, khu du lịch,
dọc hai bên bờ biển tại các vị trí thích hợp, khu trung tâm chính ở
phía Nam đường Lê Lợi và phía Ðông đường Nguyễn Du.
- Trung tâm văn hoá - thể thao: núi Trường Lệ, khu nhà hát nhân dân, phường Trung Sơn và Quảng Cư.
- Trung tâm khu vực: tại mỗi phường, xã.
2) Khu khách sạn - nhà nghỉ:
- Cải tạo, nâng cấp các cơ sở hiện có tại các phường nội thị Bắc Sơn và Trường Sơn theo hướng hiện đại.
-
Xây dựng mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ du lịch, nghỉ mát, dưỡng sức
tại dải đất ven biển thuộc xóm Vinh Sơn, phường Trung Sơn và khu hồ đầm
Quảng Cư.
- Phát triển về phía Nam Sầm Sơn các khách sạn, nhà nghỉ khi xã hội có nhu cầu.
3)
Khu du lịch - vui chơi giải trí - tắm biển: xây dựng ba khu vực chính
phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí có nội dung hoạt động khác nhau:
- Trên núi Trường Lệ: phục vụ cho du lịch văn hoá - vui chơi.
- Khu du lịch sinh thái Quảng Cư: nét đặc trưng của khu vực này là du lịch sinh thái.
- Tắm biển: tại các bãi tắm, tăng cường công tác vệ sinh môi trường, đảm bảo an toàn khi tắm biển.
4) Khu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
-
Xây dựng khu công nghiệp chế biến hải sản và dịch vụ cho chế biến hải
sản, đóng, sửa tàu thuyền... tại khu vực Quảng Tiến, Quảng Cư.
- Phát triển tiểu thủ công nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu trong các hộ gia đình.
- Xây dựng một số cơ sở chế biến lương thực, thực phẩm ở phường Trường Sơn phục vụ du lịch nghỉ mát.
5) Kho - bến cảng: chủ yếu xây dựng 2 cảng ở Quảng Tiến và Quảng Cư.
6)
Khu dân dụng: quy hoạch lại các khu dân cư hoàn chỉnh, xây mới và kiên
cố hoá các nhà dân, phần đất còn lại trồng cây xanh để tạo cảnh quan
phục vụ cho du lịch.
Quy
hoạch tổng thể thị xã Sầm Sơn phải nhằm mục đích phát triển kinh tế -
xã hội của thị xã trong mối quan hệ với định hướng phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh Thanh Hoá và các tỉnh phía Bắc. Ðồng thời phải cố gắng
phát huy hơn nữa thế mạnh kinh tế biển, đưa các ngành du lịch, thuỷ,
hải sản và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn của thị xã theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính
yêu, tạo nên sức bứt phá mạnh mẽ, đưa Sầm Sơn bắt kịp với xu thế phát
triển chung của đất nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
|